Thứ Ba, 26 tháng 6, 2018

Pink Floyd - Animals: Xã hội tư bản qua góc nhìn Roger Waters



Pink Floyd - Animals: Xã hội tư bản qua góc nhìn Roger Waters


Animals – khởi đầu của mâu thuẫn

Có lẽ sẽ chẳng có nhiều người biết đến cái tên Animals - album thứ mười của ban nhạc progressive rock huyền thoại Pink Floyd được phát hành năm 1977. Không được phủ sóng rộng rãi trên sóng phát thanh và ít được công chúng đón nhận, Animals ra đời trong giai đoạn thử nghiệm tiếp theo của ban nhạc, sau những thành công vang dội, kể cả về nghệ thuật lẫn thương mại của hai album rất nổi tiếng The Dark Side of the MoonWish you were here. Animals được người hâm mộ Pink Floyd coi là khởi điểm của mâu thuẫn trong ban nhạc, bắt nguồn từ cái tôi quá lớn của Roger Waters – tay guitar bass, hát chính và cũng là người viết lời cho toàn bộ album này.

Animals - 1977

Có thể thấy, sự chán ghét của Waters với nền “công nghiệp” âm nhạc của nước Anh những năm 70 đã manh mún ngay từ khi khi ông viết bài hát Welcome to the Machine trong album Wish you were here – album dành cho người bạn đồng hành của ban nhạc trong những năm thành công ban đầu – Syd Barrett.  Điều này càng đẩy lên cao khi Waters cảm thấy những thành viên khác trong Pink Floyd đang dần trở thành những công cụ viết nhạc cho những ông chủ sở hữu phòng thu. Nếu như trong các album trước đây, mỗi thành viên trong Pink Floyd đều sáng tác riêng từng bài hát rồi tổng hợp lại thành một album thì ở Animals, Waters lại sáng tác tất cả các bài hát theo chủ đề của riêng mình, còn những thành viên còn lại chỉ đóng góp ở mức độ âm nhạc. Với tính cách có phần ngông cuồng và ngạo mạn, Waters đã áp đặt suy nghĩ của mình lên những thành viên khác trong ban nhạc – những nghệ sỹ cũng không kém phần tài năng và sáng tạo. Mâu thuẫn ấy cứ âm ỷ nhen nhóm rồi bùng nổ đến sự tan rã của Pink Floyd sau khi cùng nhau viết nốt album The Wall, cũng đều do Waters sáng tác phần lớn.

Mỗi cá nhân của Pink Floyd đều là một thiên tài, và thật khó để giữ những cái tôi quá lớn cùng nhau quá lâu. Waters ra đi kéo theo những năm dài tranh cãi và kiện tụng về bản quyền, giữa những người bạn từ thủa còn sinh viên, cùng nhau đi lên đỉnh cao của âm nhạc. Pink Floyd không Waters như mất đi linh hồn, âm nhạc hay mà không có ý nghĩa đằng sau cũng chỉ là cái đẹp thoáng qua. Waters ra solo thì chẳng khác gì một đứa trẻ bị câm, muốn nói lên nhiều điều nhưng không thể nào thể hiện ra được. Phải tới khi Syd Barrett qua đời, cả bốn thành viên Pink Floyd mới có thể dẹp hết mâu thuẫn để cùng nhau ngồi lại và hát lên những bài hát bất hủ lần cuối cùng tại một đêm huyền ảo ở Hype Park, sau 24 năm không nhìn mặt nhau.

Có lẽ cũng vì những yếu tố đằng sau hậu trường như vậy mà Animals không được đánh giá cao như những album trước của Pink Floyd. Tuy nhiên nói đi cũng phải nói lại, Roger Waters vốn vẫn là một thiên tài đang ở độ chín của sự nghiệp âm nhạc khi chắp bút viết lên những nhạc phẩm trong Animals. Animals dù là một album mang nặng những suy nghĩ cá nhân của Waters, nhưng nó vẫn được trau chuốt qua những bàn tay nghệ thuật đỉnh cao của các thành viên Pink Floyd. Chính David Gilmour – tay guitar chính của ban nhạc, người vốn rất ghét album Animals và không bao giờ trình diễn live bất kỳ ca khúc nào từ album này trong sự nghiệp solo của mình, cũng phải thừa nhận rằng trong Animals có những điệu guitar hay nhất mà mình từng viết ra.


Animal Farm – Cảm hứng của Waters

Animal Farm là một tiểu thuyết trào phúng, được viết bởi George Orwell năm 1945. Tiểu thuyết ấy tưởng chừng như một câu chuyện cổ tích với những nhân vật chính là những con gia súc được nuôi tại khắp các làng quê của nước Anh, nhưng ẩn sâu qua đó là sự chế nhạo của Orwell với xã hội loài người và bản chất xấu xa, ích kỷ của con người. Câu chuyện bắt đầu tại một nông trại, với những con gia súc liên kết đánh đuổi con người đang bóc lột chúng. Thế nhưng, sau khi cuộc lật đổ đã thành công, những con lợn dần dần đã tha hóa và biến chất, làm trái lại những điều chúng hứa và từng bước nắm lấy quyền lực bằng những thủ đoạn ghê tởm và dối trá. Để đến cuối cùng của tiểu thuyết là hình ảnh lũ gia súc cùng nhau ngó qua cửa sổ, chăm chú nhìn cuộc sống sung sướng của lũ lợn đang ngồi hút thuốc và đánh bài. Chúng đã biến chất thành như con người – những kẻ trước đây đã từng đày đọa tất cả lũ gia súc trong trang trại. Vậy là cuộc sống ở nông trại gia súc vẫn như vậy, vẫn có những kẻ nắm quyền và lũ gia súc ngu ngốc còn lại vẫn là những kẻ bị trị. Bên cạnh ý nghĩa trào phúng những kẻ biến chất vì lòng tham và quyền lực, Orwell còn lên tiếng chỉ trích những người bình thường trong xã hội đã để quá bị mê muội vào sự dối lừa của kẻ ác mà quên đi sức mạnh của sự đoàn kết, để mặc cho lũ lợn yếu đuối chăn dắt, chỉ khư khư lo lấy cuộc sống của bản thân mình mà mù quáng chấp nhận để bị bóc lột.   

Roger Waters rõ ràng là một fan hâm mộ tác phẩm văn học nổi tiếng này và đã quyết định viết một Animal Farm của riêng mình qua phong cách progressive rock. Chính trị vẫn luôn là một chủ đề mà Waters đặc biệt yêu thích và luôn được ông đưa vào trong lời hát của ban nhạc từ khi mới hình thành. Thế nhưng, Animals là album đầu tiên mà quan điểm chính trị mang hơi hướng cá nhân của ông là chủ đề xuyên suốt. Vốn đã chán ghét chế độ tư bản bảo thủ của nước Anh những năm trước 1980 - nổi tiếng với những phân xưởng công nghiệp đồ sộ và chế độ lao động bóc lột hà khắc mà đại đa số người dân Anh lúc bấy giờ phải hứng chịu, Waters từ Animals tới tận bây giờ, vẫn luôn là một tiếng nói cổ xúy cho các phong trào đấu tranh chống lại nghèo đói, phân biệt giai cấp, và bất bình đẳng trong xã hội. Tạm gác lại quan điểm chính trị của ông là đúng hay sai, tư tưởng của Waters là một sợi dây gắn kết giữa những yếu tố siêu thực đầy nghệ thuật của âm nhạc Pink Floyd với cuộc sống và những cuộc đấu tranh rất đời thực của con người. Vì thế, âm nhạc của Pink Floyd vừa cao siêu, nhưng cũng lại vừa thật gần gũi.  

Như tôi đã từng viết trong bài viết về Echoes – Pink Floyd trước đây, nếu muốn theo dõi và hiểu Pink Floyd, chúng ta phải ghép nhặt từng mảnh ghép trong từng bài hát của mỗi album. Animals cũng như vậy. Vì thế, có lẽ không có gì tốt hơn nếu chúng ta đi qua từng bài hát của album theo mạch dẫn truyện của Roger Waters.

Pigs on the Wing, Part 1


Khác với một Pink Floyd bình thường, luôn mê hoặc người nghe với khả năng xử lý âm nhạc và ca từ, Pigs on the Wing – bài hát mở đầu cho album Animals, lại là một bản ballad có phần ngắn gọn và hơi quá đơn giản. Chắc chắn rằng Gilmour với tài năng của mình sẽ không mất quá nhiều thời gian để luyện tập cho bản nhạc này, vì tất cả những việc mà ông phải làm là đệm những gam nhạc cơ bản trên cây guitar gỗ của mình.

Không hòa phối, không hiệu ứng và cũng không dài dòng. Tại sao Waters lại mở đầu album một cách đơn giản như vậy?

Có lẽ bởi vì ca khúc này với ông chỉ như là một lời tự sự thật chân thành với người nghe. Một cách dẫn dắt câu chuyện mang đầy tính chất cá nhân và gần gũi.

If you didn't care what happened to me,
And I didn't care for you,
We would zig zag our way through the boredom and pain
Nếu mỗi con người chúng ta không quan tâm đến lẫn nhau, cuộc đời thật buồn chán và đau khổ biết bao. Chúng ta đau khổ mà chẳng biết đổ lỗi cho ai: Wondering which of the buggars to blame. Nội dung cả bài hát chỉ có vậy.

Nếu bạn đã từng nghe qua Wish you were here của Pink Floyd, thì cấu trúc dẫn truyện này lại rất quen thuộc. Một bài hát được chia ra làm đôi, một phần ở đầu và phần còn lại ở cuối album. Thay vì giới thiệu từng vấn đề của câu truyện, Waters đưa nội dung chính của album xen vào giữa như một backstory trong một cuộc trò chuyện của ông với người nghe nhạc, khiến người ta tò mò muốn tìm hiểu thêm về những gì mà ông định nói. Từ một lời tự sự qua Pigs on the Wing, Waters đưa ta đến với các vấn đề xã hội lớn hơn một cách thật nhẹ nhàng và tinh tế.

Vậy chỉ còn có một bí ẩn duy nhất: Pigs on the Wing là gì? Chắc rằng câu trả lời sẽ nằm ở Pigs on the Wing, part II, khi chúng ta đã nghe hết những gì Waters muốn nói.

Dogs

Nếu như Animal Farm của George Orwell có nhân vật chó, là lũ tay sai khát máu của kẻ thống trị, sẵn sàng làm mọi việc được sai bảo dù bẩn thỉu đến đâu mà không mảy may suy nghĩ, thì Waters cũng có hình tượng “chó” của riêng mình. Dogs của Waters là đại diện cho tầng lớp công chức và doanh nhân trong xã hội Anh bấy giờ. Được mô tả là những kẻ cơ hội, như You gotta be able to pick out the easy meat with your eyes closed hay You gotta strike when the moment is right without thinking, chúng rình rập và tìm mọi cách để leo lên chiếc thang của sự nghiệp. Tất nhiên, càng lên cao thì tham vọng của chúng càng lớn. Chúng sẽ tiếp tục đi lên bằng thủ đoạn và sự lừa lọc:

You have to be trusted by the people that you lie to,
So that when they turn their backs on you,
You'll get the chance to put the knife in.

Dogs phải tự huyễn hoặc mình rằng tất cả xung quanh chúng đều là kẻ thù, lấy đó làm lý do để biện hộ cho những hành vi ghê tởm của mình:

Deaf, dumb, and blind, you just keep on pretending
That everyone's expendable and no-one has a real friend.
And you believe at heart, everyone's a killer.

Dưới quan điểm của Waters, chúng là những kẻ chỉ biết phục tùng đến mức mù quáng, mà vẫn thấy sung sướng cho bản thân dù đang đeo đủ loại gông cùm:

Who was trained not to spit in the fan.
Who was told what to do by the man.
Who was broken by trained personnel.
Who was fitted with collar and chain.
Who was given a pat on the back.

Vậy đến cuối cùng, chúng sẽ được gì? Kết cục của lũ chó đó là cái chết trong sợ hãi và dằn vặt lương tâm. Waters tin có nhân quả trên cuộc đời này - you'll reap the harvest you have sown. Sống làm gì khi chúng luôn phải để mắt về phía sau trong lo lắng. Bởi vì cuộc đời thiếu gì những con chó tương tự mình, luôn sẵn sàng nhe nanh tóm lấy vị trí chúng đang có - You gotta keep one eye looking over your shoulder. Thế rồi nỗi sợ hãi ấy và sự dằn vặt sẽ bòn rút dần sức sống của chúng dù có trốn tránh đi đâu chăng nữa. Không có người thân hay bạn bè bên cạnh, một cái chết thật cô đơn và đau đớn:

Just another sad old man,
All alone and dying of cancer.
….
And it's too late to lose the weight you used to need to throw around.
So have a good drown, as you go down, all alone,
Dragged down by the stone.

Kết thúc bài hát là một loạt những câu hỏi mà chẳng cần câu trả lời. “Who was”, “who was”, “who was”… Waters đang hỏi ai vậy? Hay là ông đang hỏi tất cả chúng ta. Bạn và tôi có phải là những con chó trong xã hội này hay không?

Chúng ta cũng cần để ý thêm một số điểm đặc biệt ngoài nội dung chính của bài hát. Thứ nhất, là đoạn lời hát sau:

I gotta admit that I'm a little bit confused.
Sometimes it seems to me as if I'm just being used.
Gotta stay awake, gotta try and shake off this creeping malaise.
If I don't stand my own ground, how can I find my way out of this maze?

Ở đây, đại từ của câu đã thay đổi thành “I”. Thay vì nói với người khác, Waters lại đang tâm sự câu chuyện của bản thân mình. Ông cảm thấy những thành viên khác trong ban nhạc và chính bản thân mình cũng là những con chó trong bài hát, những công cụ để kiếm tiền trong nền công nghiệp âm nhạc. Waters muốn thoát ra khỏi kiếp sống này và tự nhắn nhủ với mình nếu không vững tâm mà lao theo tiếng gọi của danh vọng và đồng tiền, ông sẽ cũng bị cuốn theo dòng xoáy đó rồi để cả đời phải hối tiếc. Điểm đặc biệt thứ hai, cũng có liên quan tới tâm sự của Waters, là cụm từ “Dragged down by the stone”. The stone được lặp lại tới ba lần trong bài hát này. Khi một ai đó nhắc lại một thứ nhiều lần, chắc hẳn thứ đó phải đáng quan trọng với người đó. Tảng đá ấy có lẽ là phép ẩn dụ cho ham muốn, danh vọng, hay tiền tài. Chúng trở thành những thứ lôi kéo con người vào vòng xoáy của xã hội, trói buộc con người vươn lên tới những tầm cao mới hơn. Hình ảnh tảng đá gợi nhớ ta đến những tên tù nhân hay nô lệ khổ sai, đang cắm đầu vào lao động dưới tiếng quát nạt của chủ nhân. Tảng đá là gánh nặng của đời người mà mỗi người đều phải vác theo, nó sẽ làm người ta ích kỷ chỉ lo cho bản thân mà không nhìn quanh xem những người khác cũng đang phải mang những tảng đá nặng trĩu của riêng họ.

Về nội dung là vậy nhưng cũng không thể không nhắc đến tiếng đàn guitar của Gilmour trong Dogs nói chung và album này nói riêng. Phải nói rằng đoạn solo trong bài hát này là một trong những sáng tác hay nhất của Gilmour. Khác với Shine on You Crazy Diamond hay Comfortably Numb, tiếng guitar của Gilmour trong bài hát này mang tính chất nặng nề hơn, như đưa người nghe vào một công xưởng công nghiệp vậy. Tiếng đàn nhọn mà sắc cạnh đến ớn lạnh, với nhiều sức mạnh đến chói tai và ít vibration hơn những gì mà Gilmour thường chơi, đã góp phần tác động thẳng vào cảm xúc của người nghe nhạc. Hòa quyện với tiếng đàn guitar, tiếng keyboard của Wright cũng góp phần tạo nên âm hưởng hỗn loạn và chống đối. Tiếng đàn Gilmour như một sinh vật sống vậy, nó gào thét và vùng vẫy như tư tưởng bấy giờ của Gilmour muốn thoát ra khỏi sự áp đặt đến hà khắc của Waters. Với một ca khúc về mâu thuẫn trong xã hội, sự mâu thuẫn trong chính các thành viên trong ban nhạc cũng tạo nên điểm nhấn rất đặc biệt trong Dogs.

Pigs (Three Different Ones)


Ai đang sai bảo lũ chó? Đó là những kẻ cầm quyền, những con lợn của xã hội - Pigs. Pigs được Waters sử dụng để ẩn dụ cho những chính trị gia, những kẻ rao rảng những triết lý để người khác phải phục tùng, nhưng lại sống một cuộc sống cao sang cách xa với xã hội. Vang lên trong bài hát là tiếng guitar bass của Waters như tiếng nói trào phúng và trêu ngươi của ông, y hệt như những giai điệu trong Money vậy. Thay vì mô tả cụ thể từng tính cách của chúng như trong Dogs, Waters lại lựa ra ba hình mẫu, ba chính trị gia mà ông không ưa. Đó là lý do tại sao tác phẩm này còn có tên là Three different Ones.

Chính trị gia đầu tiên mà Waters viết tới là James Callaghan – thủ tướng Anh thuộc phe cánh tả (left wing). Không chỉ chế giễu vẻ ngoài của ông ta bằng cách so sánh với hình dáng của một con lợn, Waters còn chỉ trích Callaghan là một kẻ dối trá và mị dân. Dù có đặt tay lên ngực thề thót – when your hand is on your heart, thì đó cũng chỉ là những điều lừa dối để phục vụ cho mục tiêu chính trị của mình. Có lẽ sự tức giận của Waters cho Callaghan có liên quan tới việc ông này một mặt thực hiện các chính sách nâng lương cho thợ mỏ, rồi cũng thẳng tay đóng cửa nhiều hầm mỏ như bao nhiêu chính trị gia khác - What do you hope to find down in the pig mine?

Người thứ hai được nhắc tới là bà đầm thép – Margaret Thatcher, thủ tướng đại diện cho Đảng Bảo thủ (right wing) - You like the feel of steel … You radiate cold shafts of broken glass. Waters luôn thể hiện thái độ không ưa với bà này do những chính sách tư nhân hóa các dịch vụ công ích và đưa nước Anh vào trận chiến Falklands. Với Waters, bà chỉ là một mụ già điên rồ - You fucked up old hag.

Người cuối cùng được Waters nhắc tới cả tên trong bài hát là Mary Whitehouse – một nhà hoạt động xã hội mang tư tưởng Công giáo bảo thủ. Bà này không ngừng đấu tranh để cấm phát trên truyền hình những thứ đi ngược lại tư tưởng Công giáo của bà như ma túy, tình dục hay nhạc rock. Waters cho bằng bà đã sai lầm khi áp đặt người khác theo khuôn mẫu của mình một cách ích kỷ - You're trying to keep our feelings off the street. Hãy keep it on the inside, con người có quyền được xem những gì họ muốn và không ai ép bà ta phải xem những thứ mà mình không thích.

Cả bài hát vang lên giai điệu đầy chế giễu - Ha, ha, charade you are – Các người đều là những kẻ dối trá. Bài hát như tiếng cười của Waters vào những con người dù ở đảng phái nào hay đại diện cho lý tưởng gì, cũng chỉ là những kẻ ích kỷ vận vào một vài vấn đề nào đó để thúc đẩy sự nghiệp của mình mà thôi.

Sheep

Mở đầu cho Sheep là giai điệu keyboard nhẹ nhàng và mềm mại của Richard Wright. Nếu như trong Dogs người nghe bị mê hoặc bởi những điệu solo đầy phản kháng của Gilmour, hay trong Pigs là tiếng bass quen thuộc của Waters, thì ở bài hát thứ ba, tiếng keyboard là ngôn ngữ chủ đạo của bài hát. Tiếng đàn của Wright chơi rất dễ nghe, có phần như ru ngủ, tạo ra một hiệu ứng thoải mái và mê muội. Người nghe bỗng trở thành một chú cừu đang mải mê gặm cỏ, thoải mái và an toàn, chẳng lo lắng về những điều xung quanh - Hopelessly passing your time in the grassland away. Xung quanh bạn là những con chó chăn cừu đang gầm gừ đe dọa - There may be dogs about. Bạn không thích chúng, nhưng thôi không sao đâu, cứ kệ chúng đi và hãy lo việc của mình.

Waters rõ ràng muốn sử dụng hình ảnh Sheep để mô tả những người dân bình thường, đại diện cho tầng lớp công nhân nước Anh thời bấy giờ. Những con người đang thẩn thơ với cuộc sống của mình, những con chiên ngoan đạo của một quốc gia Công giáo truyền thống. Có lẽ Waters đã không thể quên được hình tượng những con cừu trong tác phẩm Animal Farm. Dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, miệng chúng luôn luôn lẩm bẩm “hai chân là xấu, bốn chân là tốt”, những điều chúng được lũ lợn dạy dỗ và tiêm nhiễm vào đầu.

Thế rồi, chỉ đến khi bị lùa dần vào lò mổ, lũ cừu mới chợt nhận ra thực tế phũ phàng: chúng được nuôi dưỡng để bị làm thịt - Down well trodden corridors into the valley of steel. Một cái giá phải trả vì sự mù quáng và ngu ngốc. Waters sử dụng hình ảnh trong Kinh Thánh với một sự mỉa mai. Với Waters, tôn giáo như một công cụ tẩy não người dân, dùng những lời lẽ cao siêu giáo điều để cuối cùng cũng lừa lũ cừu vào lò hầm - He converteth me to lamb cutlets.

Bài hát bỗng chốc chuyển từ giai điệu chậm rãi và nhẹ nhàng, trở nên hối hả và mãnh liệt khi tiếng bass, trống và guitar cùng vang lên một cách hỗn độn. Lũ cừu đã chịu đựng đủ rồi. Waters đang hy vọng vào một ngày những con cừu đứng lên trả thù lũ chó và lũ lợn chăng? Một bầu không khí hỗn loạn và sục sôi - Wave upon wave of demented avengers. March cheerfully out of obscurity into the dream. Liệu chúng sẽ cùng nhau đi tới một tương lai tốt đẹp hơn không?

Pigs on the Wing, part II



Những âm thanh mạnh mẽ và phản kháng mờ dần và tan biến trong chiều suy tưởng, chúng ta lại trở về với điệu ballad mở đầu, quay trở lại với những lời tự sự của Roger Waters. Giờ có lẽ chúng ta đã hiểu hơn ông muốn nói gì rồi. Pigs on the Wing có lẽ là những chính trị gia, dù họ có ở phe phái nào (wing) đi chăng nữa. Đó là những con lợn bay lượn ở trên cao, sống cách xa đời sống của xã hội, là thứ khiến Waters phải lo lắng và sợ hãi. Những lời cuối cùng mà Waters muốn nhắn nhủ người nghe: Nếu chúng ta quan tâm đến nhau, chúng ta sẽ không đơn độc và quên đi những sự bất công trong xã hội. Waters đã tìm ra một nơi chốn an toàn. Năm 1976, Waters lấy bà Carolyne Christie, một quý tộc trong Hoàng gia Anh và Pigs on the Wing là một bản tình ca dành cho bà.

Nếu nhìn lại Cover art của Animals, chúng ta có thể thấy những biểu tượng đầy ý nghĩa mà Pink Floyd đã đưa vào. Một nhà máy điện nằm im lìm trong bầu không khí công nghiệp u ám ở ngoại ô thủ đô London là biểu trưng cho một cái lò mổ, nơi những con cừu xếp hàng chui vào để bị làm thịt. Sẽ có những con chó, những tay quản đốc chỉ tay năm ngón và răn đe lũ cừu, tất cả để làm chủ của chúng được vui lòng. Một con lợn màu hồng đang lượn lờ xa tít trên bầu trời, chúng không sống cuộc sống ô nhiễm ở đây, mà thẩn thơ dạo chơi và vui thú với cuộc sống xa hoa của chúng.

Nhìn về góc độ nghệ thuật, Animals là một album có chất lượng trong phong cách phối nhạc, cùng với một ý tưởng xuyên suốt, tạo nên những hình ảnh mang tính chất biểu tượng cao. Thế nhưng, nếu nhìn về mặt tư tưởng, thì theo tôi, quan điểm của Waters về xã hội còn khá là “ngây thơ”. Waters nhìn xã hội loài người với độc hai màu đen và trắng, nơi cái xấu và cái tốt đứng trên hai bờ chiến tuyến. Nhưng đâu phải vậy, con người quá phức tạp để chỉ có hai màu. Con người và xã hội cũng không ngừng biến đổi, tùy theo từng giai đoạn, hoàn cảnh và điều kiện sinh tồn. Có lẽ Waters đã vô tình “quên” đi bài học mà George Orwell đã dạy trong chính Animal Farm: Trong đàn cừu kia, dù chúng có đấu tranh giành được cái gì đi chẳng nữa, chắc sẽ không thiếu những con chó, con lợn sẵn sàng đội lốt cừu. Quyền lực sẽ làm con người ta tha hóa. Sự ích kỷ và tham vọng vẫn luôn là bản chất in sâu trong mỗi con người. Xã hội loài người từ bao đời nay vẫn thế, vẫn sẽ là những vòng xoáy không bao giờ dừng lại của chiến tranh và hòa bình. Đó chẳng phải là cách chúng ta sinh tồn và thống trị từ thuở hồng hoang đền giờ hay sao?




Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

Cây Les Paul màu nhiệm của Peter Green

Cây Les Paul màu nhiệm của Peter Green







Peter Green và cây Les Paul của ông

Tôi thường cuốc bộ đến trường khi còn đi học ở London, chỉ vì để tiết kiệm tiền đi lại. Hầu như ngày nào cũng là một tuyến đường qua khu Tottenham Court Road. Ở cuối dãy phố mua sắm nhộn nhịp nhất châu Âu ấy, có một con phố nhỏ, nằm lọt thỏm sau những trung tâm thương mại cao vút, phố Denmark Street.

Cứ mỗi lần qua đó, tôi lại cho phép mình bước chậm lại, để có thể ngắm những cây đàn đang treo trên kệ của các cửa hàng nhạc cụ nổi tiếng ở đây. Denmark Street là nơi bày bán những cây guitar mới nhất từ các hãng tên tuổi như Gibson, Fender, Ibanez,..., được lau chùi và trưng bày cẩn thận đến mức làm cho người ta có cảm giác hào nhoáng như đi lạc vào một khu phố thời trang. Để sở hữu cho mình một chiếc, người mua cũng phải bỏ ra một khoản tương đối vào khoảng năm trăm tới một hai nghìn bảng. Thế nhưng, cùng con phố ấy, có một cửa hàng duy nhất treo lên những chiếc guitar model đã sờn rách và ố màu vì thời gian, đôi khi có thể thấy qua cửa kính những vết sửa chữa lấp liếm. Những chiếc guitar đó có giá tối thiểu là 10,000 bảng Anh!


Tại sao lại có nghịch lý như vậy? Đơn giản vì đó là những cây đàn “sống”! Và bài viết này là câu chuyện của cây đàn đã được sống một cuộc sống huy hoàng: cây Les Paul 1959 phiên bản "lỗi" của Peter Green (được bán năm 2016 với giá 2 triệu USD).

Peter Green là ai?

Nếu bạn chưa biết tới Peter Green? Tốt thôi, có thể bạn đã nghe tới Fleetwood Mac. Nếu bạn không biết Fleetwood Mac? Vậy thì bạn đã không biết tới một band nhạc đình đám trong Pop Culture của nước Mỹ suốt những năm 70, với những bản hit ăn khách như “The chain” hay “Go your own way” làm chủ các bảng xếp hạng thời bấy giờ. Những giai điệu đó vẫn còn được nhiều người biết tới cho tới tận ngày hôm nay. Không thể phủ nhận thành công về mặt thương mại và tầm ảnh hưởng tới công chúng Mỹ của Fleetwood Mac. Thế nhưng trước cái thời chơi những bản nhạc Pop đơn giản để đổi lấy sự nổi tiếng và vừa lòng người nghe ấy, đã có một Fleetwood Mac rất khác, một band nhạc Blues ngẫu hứng với những tác phẩm đậm chất nghệ thuật và đầu tư khám phá, một band nhạc được lead bởi kỹ thuật từ những cây guitar màu nhiệm thay vì tiếng nhạc điện tử, một Fleetwood Mac của Peter Green.

Thành lập năm 1967 tại London, có thể nói rằng trong thời kỳ đầu Fleetwood Mac là band nhạc của riêng Peter Green. Vừa viết nhạc, vừa sáng tác và hát chính, Green cùng cây đàn của mình đưa Fleetwood Mac nổi tiếng khắp Anh quốc và Châu Âu.  Họ chơi Blues đầy sáng tạo và cảm xúc, với kỹ thuật điêu luyện trên nền tảng tempo chậm qua tiếng đàn Peter Green. Tiếng đàn ấy mỏng mà sắc, như chạm tới từng dây thần kinh cảm xúc của người nghe. Green cũng là bậc thầy về kỹ thuật điều khiển âm thanh của cây đàn, ông liên tục điều chỉnh setup và thử nghiệm ngẫu hứng, tạo ra những âm thanh mới cho người nghe say mê. Không có gì ngợi khen tiếng đàn Green hơn là thừa nhận của ông vua nhạc Blues - guitarist huyền thoại B.B. King: Peter Green là tay đàn duy nhất khiến ông phải vã mồ hôi hột.


Chắc không có gì tốt hơn là nghe tận tai một nhạc phẩm của Green’s Fleetwood Mac. Hãy tìm kiếm và nghe thử những tác phẩm đã định hình dòng nhạc Blues và Rock như “Oh well”, “Need your love so bad” hay “Albatross”. Ở đây, xin phép được giới thiệu tác phẩm với cái tên rất quen thuộc “Black magic woman”, nơi những âm thanh đặc biệt của cây đàn Les Paul được vang lên trong suốt ca khúc. Chắc chắn, nhiều người sẽ biết đến bản cover nổi tiếng hơn rất nhiều của Santana, nhưng hãy bỏ chút thời gian mà thưởng thức bài hát này từ một bậc thầy guitar thực thụ, với những cảm xúc thực sự của người sáng tác ra nó, trong cơn thèm khát đến cuồng dại của Green, không phải cho một người đàn bà, mà là cho ma túy.


                                                                                       Black magic woman - Fleetwood Mac 1970

Tiếc thay, khi tiền bạc và danh vọng đến quá nhanh, áp lực từ sự kỳ vọng của công chúng và nhà sản xuất là quá lớn, Peter Green đã không thể trụ vững và lạc lõng vào những cơn mê cùng “Black magic woman” của mình. Ma túy là cái giúp ông quên đi những áp lực đó và cũng là nguồn sáng tạo cho những ca khúc của Green. Thế nhưng, ma túy cũng đã cướp đi cả lý trí và linh hồn ông. Ông đã hóa điên trong những ảo giác và tự mình chấm dứt sự nghiệp âm nhạc còn dang dở. Fleetwood Mac vẫn phải bước tiếp từ những nền móng ban đầu của ông mà không có người kỹ sư chính. Chắc hẳn, nền âm nhạc thế giới sẽ rất khác nếu Green còn có thể cống hiến những tác phẩm mới và cùng band nhạc của mình đi chinh phục thị trường Bắc Mỹ. Phải đến hơn 20 năm sau, Peter Green mới bình phục và chơi nhạc trở lại, nhưng thế giới bây giờ đâu cần có nhạc Blues, đâu cần một một guitar hero đúng nghĩa làm gì nữa, âm nhạc bây giờ phải thật to, thật dễ nghe để bán được thật nhiều album. Chính vì lẽ đó, không nhiều người, kể cả trong giới guitar, biết đến Peter Green và Fleetwood Mac thời kỳ sáng tạo.


Vậy, nếu bạn chưa biết tới Peter Green? Hãy biết đến Peter Green. Hãy xem ông như một tượng đài nhạc Blues nói riêng và âm nhạc nói chung, như ông xứng đáng được ghi nhận. Hãy nghe một vài tác phẩm của ông, để cảm nhận những âm thanh độc nhất vô nhị từ cây đàn Les Paul màu nhiệm.

Điều gì “màu nhiệm” ở cây đàn của Peter Green?

Sự “màu nhiệm” của cây đàn ấy lại là điều hết sức tình cờ: do lỗi của nhà sản xuất. Ở cái thời mà cây đàn được làm hết sức thủ công từ những xưởng sản xuất địa phương với những nguyên liệu sẵn có, chứ không phải sản xuất hàng loạt tại một nhà máy nào đó ở Trung Quốc như bây giờ, mỗi cây đàn cũng có thể coi là một tác phẩm nghệ thuật thực sự, gửi gắm những phong cách và kinh nghiệm của người làm ra nó, vậy thì dẫu có chút sai sót cũng là điều dễ hiểu.  

Cây đàn điện khác một cây đàn acoustic đơn giản ở chỗ là nó khuếch đại âm thanh bằng điện từ. Với mỗi cây đàn điện, thông thường sẽ có hai tới ba pickup, là các nam châm điện cùng chiều ghi âm rung động của dây đàn vào cổng ra âm thanh. Sở dĩ các pickup của một cây đàn phải vặn cùng chiều, vì phải như vậy các sóng âm thanh mới cùng chạy song song, tạo ra âm thanh khuếch đại và mạnh mẽ. Tuy nhiên, với cây đàn Les Paul của Green, người thợ lắp đàn đã đặt ngược chiều từ trường của một pickup với cái kia. Bởi thế, khi dây đàn rung lên và sóng âm được ghi lại, một pickup tạo ra sóng âm thanh giao động theo một chiều, cùng lúc với pickup thứ hai (đàn Les Paul chỉ có hai pickup) lại nhận giao động đó theo chiều ngược lại. Hai sóng âm ngược chiều nhau sẽ tự triệt tiêu lẫn nhau và máy phát cuối cùng chỉ phát ra những gì còn lại. Đó là lý do tại sao, âm thanh từ cây đàn của Green lại nhỏ hơn nhưng sắc hơn, vì những nốt ông đánh lên không được khuếch đại mà là chắt lọc lại còn những gì tinh túy nhất, để lại âm thanh đầy cảm xúc cho người nghe. Âm thanh này được người chơi nhạc gọi là “Out of phase”, hay đơn giản hơn là “Peter Green’s sound”. Chính Peter Green đã nói nhiều lần rằng ông không cố tính đặt ngược pickup để tạo hiệu ứng âm thanh mà hoàn toàn là lỗi của người thợ làm đàn một cách tình cờ.



Pickup là hai khung hình chữ nhật màu trắng được nối với dây đàn
Ấy vậy, nhưng không có nghĩa là Peter Green may mắn được trời ban cho một cây đàn nhiệm màu. Theo tôi, nếu không vào tay Green, cây Les Paul này sẽ chỉ là một cây đàn lỗi, đã được người ta vứt đi ở một xó xỉnh nào rồi. Không bàn đến khả năng viết nhạc của ông, Green là một kẻ luôn tìm tòi và khám phá cây đàn. Ông hiểu tại sao âm thanh này được tạo ra và ông sử dụng nó một cách thật chắt chiu. Không phải lúc nào ông cũng dùng nó trong cả tác phẩm của mình, tiếng “Out-of-phase” được vang lên xen kẽ với những âm thanh đúng phase thông thường, tại những điểm nhấn ngẫu hứng của bài hát, đem đến cái phiêu trong tiếng guitar của ông. Đó là lý do tại sao khi chơi đàn, Green luôn tay điều chỉnh âm lượng thu từ các pickup để thay đổi giữa tiếng trong phase và ngoài phase.


Tưởng như sự màu nhiệm của cây đàn cũng sẽ mất đi cùng với sự nghiệp của Green, nhưng không, cây đàn đã được Green trao lại cho người bạn và cũng là người học trò của mình, một bậc thầy guitar khác, để 10 năm sau, cây đàn ấy đã cất lên những giai điệu bất hủ của “Parisian walkway” làm hàng triệu người say mê và bắt những guitarist phải thuộc nằm lòng từng nốt nhạc.

Gary Moore - người thừa kế xứng đáng.

Gary Moore và cây đàn Les Paul của Peter Green
Những dòng viết trong đoạn này sẽ có vẻ hơi thiên vị, bởi vì với tôi, Gary Moore là guitarist hay nhất mọi thời đại. Gary Moore có tất cả. Ông sáng tác hầu hết những nhạc phẩm của mình, tạo ra những giai điệu đầy cảm xúc. Ông có thể hát rất hay và rất khỏe, nhưng Moore chẳng cần phải hát làm gì, bởi tiếng đàn của Moore đã hát thay cho ông. Vậy nhưng cũng như người thầy của mình, dù rất nổi tiếng ở Châu Âu, tên tuổi của Gary Moore cũng gần như vô danh tại Mỹ, nơi mà người ta tôn một tay guitar bình thường (so với Moore và Green) như Eric Clapton làm Chúa!

Gary Moore gặp Peter Green tại London năm 1969 khi ban nhạc lúc đó của ông - Skid Row - được chơi mở màn cho Fleetwood Mac. Ngạc nhiên trước khả năng chơi nhạc của Moore, Peter Green đã kết thân và đích thân truyền dạy những kĩ thuật của mình cho Moore. Đối với Gary Moore, Green lúc này đã là thần tượng của ông. Như một cậu bé được gặp Superman, Moore đã học hỏi rất nhiều từ Green và xem ông như là người thầy của mình. Vài năm sau, khi cảm thấy Gary Moore đã đủ khả năng tự mình bước lên đỉnh vinh quang, Peter Green đã trao lại cho Gary Moore cây đàn màu nhiệm của mình với cái giá hình thức là 100 bảng Anh và lời nhắn nhủ: “It would have a good home”.


Và Gary Moore đã chơi rất được. Vác lên vai cây đàn của Green, Gary Moore rời bỏ band nhạc và bắt đầu sự nghiệp solo lẫy lừng của mình. Trong suốt quãng thời gian đầu đó, Gary Moore chỉ sử dụng cây Les Paul ấy cho mọi bản thu và các buổi trình diễn live. Chỉ vài năm sau đó, Gary Moore nhanh chóng nổi tiếng và nhận được sự kính nể từ nhiều tay guitar gạo cội khác, cũng như người thầy của mình. Khác với chất nghệ sỹ và lãng tử của Green, Gary Moore là một chiến binh Celtic, ông chơi đàn với tốc độ rất nhanh và sử dụng nhiều kỹ thuật đánh đàn phức tạp, đồng thời tiếng đàn của Moore cũng mạnh mẽ hơn rất nhiều với âm lượng và độ rè (distortion) ở mức cao. Nhưng không phải vì thế mà tiếng đàn của ông mất đi tính ngẫu hứng và xúc cảm của âm hưởng Blues do chính Peter Green truyền dậy. Có thể nói, tiếng đàn Gary Moore là sự hòa quyện hoàn hảo giữa chất Rock đầy máu lửa sẵn có của Moore và những cảm hứng sáng tạo ngẫu hứng mà Peter Green đã để lại. Và cũng không có gì diễn tả tốt hơn tiếng đàn của ông, bằng việc lắng nghe một bản nhạc mà Gary Moore biểu diễn với cây đàn Les Paul trong tay: “Still got the blues”.


                                                                                          Still got the blues - Garry Moore 1970


Với Gary Moore, cây đàn là một bảo vật. Sau giai đoạn đầu tiên chơi nhạc, Moore hiếm khi sử dụng cây Les Paul khi trình diễn live mà thay bằng những cây đàn khác. Với Moore, một vật giá trị như vậy nên được cất giữ cẩn thận và sử dụng trong phòng nhạc tại nhà. Chính vì thế, cho đến giờ, rất hiếm khi người ta có thể được nghe lại tiếng đàn Les Paul của Green qua tay Gary Moore. Thế nhưng, cũng đến một ngày cây đàn phải rời xa ông, những khó khăn về tài chính đã buộc Moore phải bán nó đi với giá 1 triệu USD năm 2006 cho một nhà sưu tầm, một vài năm trước khi ông qua đời vì cơn trụy tim.


Kirk Hammett kẻ sưu tầm nổi tiếng.

Chiến đàn Les Paul đã được rao bán ngay khi nó rời khỏi tay Gary Moore, nhưng phải tới 10 năm sau, nó mới tìm được người chủ mới với cái giá 2 triệu USD: tay guitar Kirk Hammett của Metallica.

Là một fan của cả hai tay guitarist, Kirk Hammett đã chịu chơi bỏ ra một khoản đáng kể để có thể sở hữu cây đàn. Nếu xét về độ nổi tiếng, Hammett của band nhạc Metallica chắc chắn là nổi tiếng hơn nhiều so với những người chủ trước của cây đàn. Là một Big 4 của nhạc metal nước Mỹ, Metallica nổi tiếng khắp thế giới, có nhiều thành công về mặt tài chính và được xem là biểu tượng của nhạc metal nói chung. Thế nhưng, nếu xét về góc độ khả năng chơi nhạc, nếu so với những người chủ trước, cũng không quá khi nói rằng Kirk Hammett chỉ là kẻ tầm thường. Phong cách đánh ồn ào của metal thực sự không phù hợp với những âm thanh Out-of-phase nhỏ bé mà cảm xúc. Việc Metallica bỏ các phần guitar solo trong bài hát cũng làm mất đi thế mạnh của cây đàn này. Như vậy, có thể nói, việc mua lại cây đàn Les Paul chỉ đơn thuần là hình thức sưu tầm mà thôi.

Có rất nhiều người cho rằng Kirk Hammett không xứng đáng làm chủ cây guitar đó, mà hãy giao nó lại cho một guitarist xứng đáng hơn. Tuy nhiên theo tôi, chiếc đàn đã có một người sở hữu hiểu biết và quý trọng nó. Dù không còn được biểu diễn trên những sân khấu lớn hàng vạn khán giả, cây đàn Les Paul đấy vẫn được một guitarist đánh lên, thay vì được treo ở một viện bảo tàng nào đấy. Đó là khi sức sống của nó vẫn còn.


Kết


Những người đánh đàn thường nói với nhau rằng những cây đàn được “nghe” càng nhiều nhạc sẽ càng hay. Vậy thì hẳn cây Les Paul của Peter Green sẽ phải hay lắm khi đã được “nghe” những sáng tác của hai bậc thầy guitar, được là một phần tâm hồn của hai người nghệ sỹ thiên tài, cùng trải qua bao nhiêu biến cố cuộc đời. Vậy thì hãy xem sự chênh lệch giữa giá cả của một cây guitar mới cứng và một cây đàn cũ kĩ là khoản tiền để trả cho “sức sống” của cây guitar đó đi.



Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

Pink Floyd - Echoes và thuyết luân hồi

Pink Floyd - Echoes và thuyết luân hồi





Đôi điều về Pink Floyd


Pink Floyd là một ban nhạc rock đến từ cái nôi của những ban nhạc rock sáng tạo và cấp tiến nhất trên thế giới: nước Anh. Những Beatles, Led Zeppelin, Queen, Deep Purple, Rolling Stones, The Who, Dire Straits, Cream, The Police, Black Sabbath, Judas Priest, Iron Maiden … những cái tên mà bất kì người mê rock nào cũng ít nhất một lần được nghe tới. Họ là những nhà sáng tạo, là những kẻ khai phá, những người đi đầu và luôn định hướng dòng chảy cho dòng nhạc rock nói riêng và âm nhạc thế giới nói chung.

Pink Floyd cũng là một ban nhạc như thế. Bắt đầu từ những sinh viên kĩ thuật nhưng đam mê nghệ thuật, Pink Floyd xây dựng âm nhạc của mình với những thiết kế đầy logic cùng những tính toán sắp đặt trong cung cách phối nhạc một cách trơn tru và hệ thống. Thế rồi, công trình ấy lại được đưa qua bàn tay màu nhiệm của Syd Barrett – trưởng nhóm nhạc dù gia nhập sau này - sinh viên mỹ thuật duy nhất trong nhóm. Quả thực, không có Syd Barrett, không có Pink Floyd: "Syd was the guiding light of the early band line-up and leaves a legacy which continues to inspire."

Có thế nói Syd Barrett là hiện tượng dị thường nhất của nền âm nhạc thế giới. Chỉ với 7 năm ngắn ngủi hoạt động âm nhạc, ông đã là cha đỡ đầu của dòng nhạc psechedelic rock và progressive rock, là một trong những tay guitar đầu tiên xây dựng hơi hướng metal trong âm nhạc của mình, và hơn hết ông là người cuốn hút khán giả đến với Pink Floyd từ khi ban nhạc còn chập chững những bước đi đầu tiên. Chỉ cần 7 năm ông đã mãi mãi trở thành huyền thoại. Cũng chỉ 3 năm sát cánh với Roger Waters, Nick Mason và Richard Wright, trước khi rơi vào cơn mê sảng điên cuồng của ma túy, ông vẫn được coi là phần không thể thiếu của ban nhạc khi mà những tư tưởng và phong cách chơi nhạc do ông đặt ra vẫn nằm đâu đó trong những album tiếp theo của Pink Floyd.
Pink Floyd

Tuy vậy, ta cũng không thể phủ nhận vai trò của David Gilmour, nổi tiếng với cây đàn Fender đen huyền thoại, người kế thừa vai trò tưởng như không thể thay thế nổi của Syd và thổi vào ban nhạc những tính cách rất riêng. Thật khó khăn biết bao trước áp lực phải thay thế cả một tượng đài, David Gilmour đã làm quá tốt điều đó khi ông cùng với những thành viên khác của Pink Floyd đã đi đến những đỉnh cao nhất của âm nhạc. Nhưng dù trên đỉnh cao, Pink Floyd vẫn không quên Syd, thậm chí họ đã cho ra đời một album dành riêng cho ông, cũng là một tuyệt tác trong sự nghiệp của ban nhạc: “Wish you were here”. Album chỉ có vẻn vẹn 5 bài hát nhưng chất lượng âm nhạc và tư tưởng thì trên cả tưởng tượng của người nghe. Nổi bật nhất trong album là những lời ngợi ca đầy luyến tiếc của ban nhạc cho người thiên tài âm nhạc đã không còn sát cánh với họ: bài hát “Shine on you crazy diamond” với chiều dài 26 phút, được chia thành 2 đoạn ở đầu và cuối của album. (chơi chữ: Shine on You crazy Diamond = SYD).

Nhiều người cho rằng PinkFloydians (cách những người đam mê Pink Floyd tự gọi mình) là những kẻ lập dị, thích thể hiện, muốn làm mình khác biệt với người khác. Sự thật là ngược lại, trong thời kì huy hoàng của mình, Pink Floyd sở hữu những album bán chạy nhất thế giới, lượng fan khổng lồ và “phá đảo” mọi loại bảng xếp hạng. Rõ ràng, âm nhạc của Pink Floyd là âm nhạc “mainstream” và cho đến bây giờ không hiếm những người vì tò mò tìm hiểu tại sao ban nhạc lại nổi tiếng đến thế mà trở nên say mê với âm nhạc của họ. Cũng có kẻ bảo rằng muốn hiểu được Pink Floyd thì người nghe cần phải say ma túy??? Thiết nghĩ, có cần thiết như vậy không vì chính âm nhạc và tư tưởng truyền đạt trong âm nhạc của Pink Floyd đã đủ để đưa người nghe vào một thế giới khác rồi? Âm nhạc của họ luôn chứa những ẩn số được sắp xếp rất khoa học, nếu người nghe không đủ minh mẫn để suy luận thì liệu họ có thể thưởng thức được âm nhạc của Pink Floyd hay không?

Album Meddle và Echoes

Mỗi album của Pink Floyd đều kể một câu chuyện. Do vậy, người nghe thường theo dõi dòng chảy của cả câu chuyện chứ ít khi chỉ quan tâm đến một nhạc phẩm nhất định. Tuy nhiên, sẽ không phải là quá đáng nếu nói Echoes là điểm nhấn, là tiếng vang vọng lớn nhất của cả album Meddle – album thứ 6 của ban nhạc Pink Floyd kể từ khi thành lập. Điểm đặc biệt của album này là mỗi bài hát là một câu truyện riêng được viết bởi từng thành viên trong ban nhạc. Cuối cùng, tất cả các mạch chuyện đó tụ hợp lại ở nhạc phẩm cuối cùng trong album: Echoes. Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta đánh giá thấp những tác phẩm khác trong Meddle, chúng đều là những trải nghiệm âm nhạc thú vị.

Meddle Cover Art - 1971 - Storm Thorgerson

Về kĩ thuật âm nhạc, Echoes hay, nhưng hay một cách “bình thường” so với mọi tác phẩm khác của Pink Floyd. Pink Floyd vẫn vậy, họ không chỉ dừng lại ở dùng những âm thanh từ nhạc cụ của mình mà hòa quyện thêm vào đó là những tiếng động tưởng như bâng quơ từ cuộc sống hàng ngày. Họ vẫn điều khiển âm nhạc của mình để tạo ra những hiệu ứng, đưa người nghe theo những ý đồ nghệ thuật đã được sắp đặt sẵn. Các nhạc công của Pink Floyd cũng vẫn vậy, họ chơi chậm mà hay, không cần nhiều nốt nhạc trong một giây nhưng từng nốt nhạc đưa vào đều là những điểm nhấn cần thiết và chạm đến cảm xúc của người nghe. Vậy thì điều gì đã đưa nhạc phẩm này trở thành sáng tác hay nhất của ban nhạc Pink Floyd, những người mà công việc bình thường của họ đã là tạo ra những tuyệt phẩm?

Tư tưởng – đôi cánh của Echoes

Echoes là một ca khúc rất nổi tiếng của Pink Floyd. Lướt qua những dòng bình luận về ca khúc này trên các trang web chia sẻ bài hát và lời hát, người ta dễ có thể nhận thấy những từ ngữ ngợi ca như “trải nghiệm tuyệt vời”, “đỉnh cao của cảm xúc”, “quá ấn tượng” hay “đáng nghe trước khi chết”… Quả thật, có điều gì đó làm chạm đến cảm xúc của mỗi người nghe mà hơn cả hiệu ứng kỳ diệu của âm nhạc mà bài hát mang lại. Điều gì đó thật gần gũi mà nằm sâu trong từng lời hát tưởng chừng như vô nghĩa.

Một lời khuyên cho những ai sẽ đọc những dòng dưới đây: Hãy chọn cho mình một khoảng không yên tĩnh, tìm lời bài hát và trải nghiệm ca khúc này. Hãy sử dụng trí tưởng tượng và suy luận logic của mình để tìm hiểu Echoes. Đừng để những quan điểm dưới đây ảnh hưởng quá lớn đến ý thức của bạn. Âm nhạc pschedelic là vậy, luôn luôn là một thế giới mở cho những ai say mê nó, ta nghĩ nó là gì thì nó sẽ là như thế.
.
Sự khởi đầu và bài thơ “Rime of the Ancient Mariner”

“OVERHEAD THE ALBATROSS
HANGS MOTIONLESS UPON THE AIR
AND DEEP BENEATH THE ROLLING WAVES
IN LABYRINTHS OF CORAL CAVES
AN ECHO OF A DISTANT TIME
COMES WILLOWING ACROSS THE SAND
AND EVERYTHING IS GREEN AND SUBMARINE”

Người Việt chúng ta chẳng ai xa lạ gì với thuyết luân hồi của đạo Phật. Nói một cách đơn giản, chết chưa phải là kết thúc. Linh hồn chúng ta sau khi lìa khỏi thể xác sẽ lại tìm kiếm chủ thế mới ở một trong 6 giới để tái sinh. Sự tồn tại của chúng ta là vậy, cứ mãi là những vòng quay không ngừng. Trong kiếp sống của mình, ta gieo gió thì gặt bão, ác nghiệp ta tạo ra nếu ta không phải chịu ở kiếp này thì kiếp sau ta sẽ phải chịu. Tư tưởng đó đã khuyến khích mọi người làm việc thiện để tích đức cho mình trong kiếp này lẫn kiếp sau. Hơn thế nữa, nếu con người đang phải chịu khổ ở kiếp này, hãy nhớ lấy rằng do chính bản thân mình kiếp trước đã gây ác nghiệp hay đã hưởng đủ phúc phận, xin hãy đừng đổ tại cho hoàn cảnh, cho những người khác mà trước hết hãy tự trách lấy bản thân và hướng mình đến những điều tốt đẹp hơn. Vậy, tư tưởng đến từ phương Đông xa xôi ấy có gì liên quan đến một ban nhạc rock nổi tiếng ở nước Anh? Điều này sẽ được bóc tách dần dần khi dòng tư tưởng của bài hát được phân tích.

Khúc dạo đầu của bài hát sẽ gây khó hiểu cho người nghe, nếu họ chưa nghe những lời hát đầu tiên của David Gilmour và cũng chưa từng biết tới bài thơ nổi tiếng “Rime of the Ancient Mariner”. Với họ, nó chỉ là tiếng vang vọng khi một thứ gì đó va chạm với mặt nước rồi chìm sâu xuống đáy biển. Không chỉ một lần, mà là nhiều, rất nhiều lần như vậy. Như đã nói ở trên, Pink Floyd rất hay đưa những âm thanh quen thuộc trong đời sống sinh hoạt hàng ngày vào bài hát của mình để tạo hiệu ứng cho người nghe nhạc. Liệu đây cũng chỉ là những ứng dụng âm thanh tài tình của ban nhạc như trong bao nhiêu tác phẩm khác? Để trả lời câu hỏi này, trước hết, hãy dừng lại một chút và tìm hiểu thêm về “Rime of the Ancient Mariner” đã.


Mặc dù tác phẩm “Rime of the Ancient Mariner” của nhà thơ Samuel Taylor Coleridge là một trong những tác phẩm có sức ảnh hưởng lớn nhất trong văn học ngôn ngữ Anh, bài thơ đem đến cho người đọc một trải nghiệm khó tả và nhiều khi gây ra các cảm giác khó hiểu. Qua tác phẩm, Samuel T. Coleridge  kể một câu chuyện dài, với nhiều màu sắc siêu tưởng và mang đậm tính chất tôn giáo. Rất có thể tác phẩm này sẽ rất khác tất cả các bài thơ mà bạn đã từng đọc. Bài thơ có thể là một thế giới rộng lớn cho con người khám phá và suy nghĩ, nhưng nó cũng có thể làm nản lòng nhiều người muốn tìm hiểu nó. Dù sao đi chăng nữa, hãy hết sức bình tĩnh, “Rime of the Ancient Mariner” sẽ càng mang lại nhiều cảm xúc khi ta càng dành nhiều thời gian cho nó. Một bản sao của bài thơ có thể tìm được trong websites: 

Nội dung của bài thơ có thể tóm lại như sau:

Hãy thử tưởng tượng mình là một trong ba chàng trai trẻ đang chuẩn bị tham gia một bữa tiệc đám cưới linh đình, với bạn bè, thức ăn, đồ uống và những cô gái trẻ đẹp (the Wedding Guest). Thế rồi, bỗng nhiên bạn bị chặn lại ngay trước cửa bởi một lão già gàn dở với gương mặt xanh xao như kẻ bệnh tật (the Ancient Mariner). Ông ta năn nỉ xin bạn thời gian để nghe câu chuyện cuộc đời ông, trong khi những người bạn đi cùng đã tham gia vào bữa tiệc trước. Bạn sẽ làm gì? Tất nhiên, ta sẽ khó chịu và đẩy ông già đó ra. Thế nhưng, trong đôi mắt van nài của the Ancient Mariner, the Wedding Guest miễn cưỡng lắng nghe câu chuyện.
Câu chuyện kể về thời trẻ của the Ancient Mariner. Ông ta là một thủy thủ trên con thuyền hướng đến Bắc Cực. Hải trình đang diễn ra suôn sẻ thì cơn bão rất lớn như con quái vật xua đuổi con thuyền vào một vùng nước bị bao phủ bởi băng giá ánh lên sắc xanh của nước biển – “Everything is green and submarine”. Khi cả đoàn thủy thủ tuyệt vọng chờ chết trong vùng nước không lối thoát thì chợt một chú chim hải âu bay đến với con thuyền (the Albatross) mang theo những điềm lành và đưa con thuyền vượt qua vùng nước. Cả đoàn thủy thủ coi chú chim như con vật may mắn với con thuyền. Thế rồi một hôm đoàn thủy thủ bất ngờ không thấy chú chim đâu. The Ancient Mariner đã giết chú chim hải âu!!!
Kể từ lúc đó, con thuyền liên tục gặp những sự kiện quái gở: mặt trời bỗng đỏ rực màu máu, gió chợt ngừng thổi, cả vùng biển cạn sạch nước rồi bị thay thế bởi những con rắn biển nhơ nhớp, mặt biển xuất hiện những con vật nhỏ li ti phát ra những ánh sáng xanh kì bí… Và những cơn ác mộng về những linh hồn dưới đáy biển bám theo con thuyền cứ hàng ngày ập đến với từng thủy thủ. Những người thủy thủ, kiệt quệ dần vì điều kiện khắc nghiệt, dồn hết căm phẫn vào the Mariner. Và hình ảnh biểu tượng của bài thơ xuất hiện, họ treo xác chú chim hải âu quanh cổ của the Mariner để ông mãi mãi ghi nhớ điều mà mình đã gây ra – “Overhead the Albatross, hang motionless upon the air”.
Thế rồi từ phía xa, một con thuyền xuất hiện. Tưởng như mình được cứu mọi người tiến lại gần, nhưng không, đó là một con thuyền ma. Trên đó, có hai người đang chơi ném xúc xắc: Death và Life-in-Death. Life-in-Death – trông như một người phụ nữ bình thường nhưng mang theo gương mặt đau khổ và bệnh tật đã thắng. Nhưng, chẳng có gì đặc biệt xuất hiện. Sau cuộc gặp đó, 200 thủy thủ đi cùng the Mariner đã chết, linh hồn họ lao qua the Mariner như mũi tên mà ông đã từng giết chú chim hải âu, ánh mắt của họ khi chết vẫn nhìn chằm chặp về phía ông ta.
Đến đêm khi mặt trăng lên cao, the Mariner nhìn xuống những con rắn biển và chợt nhận ra chúng cũng khá đẹp. Ông chúc chúng những lời tốt đẹp nhất từ trái tim mà không hề hay biết. Đột nhiên, lời nguyền của ông được giải, con chim hải âu của ông đeo trên cổ bỗng rơi xuống đáy biển, tiếng vọng (Echo) vang xa trên mặt biển - “And deep beneath the rolling waves, in ladyrinths of coral caves, an echo of a distant time comes willowing across the sand”. Kể từ đó, mọi chuyện trở nên tốt đẹp với the Mariner, mưa rơi xuống, gió cũng lên và những xác chết thủy thủ dựng dậy chèo lái con thuyền cùng ông ta. Cuối cùng, ông được một chiếc thuyền cứu sống trước khi thuyền chìm xuống mặt biển. Kể từ đó, ông đi tìm những ai cần để cho họ nghe về câu chuyện đời ông.
Câu chuyện kết thúc, the Ancient Mariner cũng đi mất, the Wedding Guest chợt không muốn đi dự tiệc nữa. Ngày hôm sau thức dậy, anh đã trở thành một con người buồn bã hơn nhưng cũng thông thái hơn.

Như vậy, ta có thể chắc chắn rằng những lời hát đầu của nhạc phẩm Echoes đã nhắc đến chính bài thơ này. Hay nói cách khác, bài thơ là nguồn cảm xúc gợi nên ý tưởng sáng tác cho tuyệt phẩm này của Pink Floyd. Để phục vụ cho những phân tích về Echoes, xin mạn phép được đưa ra những suy nghĩ nhằm lý giải bài thơ rất khó hiểu này. Tất nhiên, bài thơ có thể hiểu theo nhiều cách và những dòng sau đây có thể hoàn toàn sai lệch với ý đồ của tác giả.

Thứ nhất, bài thơ dạy cho ta sự kiên nhẫn. Nếu the Wedding Guest không kiên nhẫn ngồi nghe câu chuyện, anh ta sẽ không thể trở thành một con người thông thái hơn. Nếu người đọc chúng ta không kiên nhẫn và nghiên cứu bài thơ nhiều lần, ta cũng chỉ thấy nản lòng với chính nó và với chính bản thân ta.

Thứ hai, bài thơ đang muốn nói đến mối quan hệ nhân – quả trong cuộc sống. Hành động giết chú chim hải âu (the Albatross) là một nghiệp ác và gây ra hậu quả nghiêm trọng. Bài thơ không nói tại sao the Ancient Mariner lại ra tay làm việc này, chỉ để muốn nói rằng, việc ác dù có lý do gì đi nữa, chính đáng hay không chính đáng, cũng vẫn là một việc ác. Biểu trưng cho sự dằn vặt và đau khổ với nghiệp ác của một người gây ra chính là xác con chim hải âu được treo trên cổ. Cho tới khi, những tia sáng tốt đẹp xuất hiện trong the Mariner, ông đã được giải thoát khỏi những dằn vặt ấy. Tuy nhiên, nên nhớ rằng, ông ta chỉ giải thoát được sự ăn năn hối hận của mình, nhưng những hình phạt mà ông phải chịu cho hành động của mình vẫn còn. Hình phạt ông mang chính là Life-in-Death, đến đoạn giữa và cuối cùng, ta chợt nhận ra the Ancient Mariner mang đẩy đủ những đặc điểm của hình tượng Life-in-Death, cũng gương mặt buồn khổ và bệnh tật ấy. Ông ta đã phải chịu điều tồi tệ hơn cả cái chết, sống để nhìn người khác ngã xuống, sống để tiếp tục hứng chịu mọi đau đớn, cho dù the Mariner có cố làm việc tốt bằng cách chia sẻ câu chuyện của mình cho những người khác hiểu, ông chỉ quên đi những dằn vặt cho mình mà thôi. Hình phạt chính là cuộc sống đau khổ thì ông ta vẫn phải chịu đựng. Ngày hôm sau, the Wedding Guest tự nhận mình là con người buồn khổ nhưng thông thái hơn, có phải vì anh ta đã hiểu cuộc sống này là nỗi khổ, những cuộc vui trên đời chỉ là ảo ảnh? Chờ đã, điều này có vẻ tương đồng với Phật giáo thì phải.

Quay lại với intro của nhạc phẩm Echoes, sau khi đã tìm hiểu về đoạn lời bài hát đầu tiên, ta chợt hiểu sự tài tình và tinh tế của Pink Floyd khi khởi đầu bằng tiếng vật gì đó rớt xuống nước. Những âm vang va đập ấy có lẽ là tiếng những chú chim hải âu thoát khỏi cổ mỗi người chúng ta và lao thẳng xuống đáy biển sâu. Hãy nhớ rằng Pink Floyd đang muốn mô tả sự khởi đầu của cuộc sống bằng âm nhạc của mình. Khi con người bắt đầu kiếp sống, những dằn vặt về tội ác, những níu kéo của cuộc đời ở kiếp trước đã kết thúc như những gánh nặng được ném xuống đáy biển. Nếu ta nhắm mặt lại và cảm nhận, những giai điệu guitar đầu tiên của David Gilmore như muốn thể hiện sự tỉnh giấc của linh hồn, và thế rồi, nhịp trống nhẹ nhàng tăng dần như những nhịp đập trái tim của một cơ thể mới.

Tuy nhiên, quy luật nhân quả sẽ không buông tha chúng ta, hay đúng hơn là chúng ta vẫn phải hứng chịu hậu quả do chính mình đã thực hiện. Đó là lý do vì sao, Pink Floyd đưa bài thơ “Rime of the Ancient Mariner” vào ngay sau sự khởi đầu của cuộc sống, như một lời nhắn nhủ con người ta về chân lý đã tồn tại mãi mãi này.

Cuộc sống và mong muốn khám phá ánh sáng của nhận thức

“AND NO ONE CALLED US TO THE LAND
AND NO ONE KNOWS THE WHERES OR WHYS.
SOMETHING STIRS AND SOMETHING TRIES
STARTS TO CLIMB TOWARDS THE LIGHT.

STRANGERS PASSING IN THE STREET
BY CHANCE TWO SEPARATE GLANCES MEET
AND I AM YOU AND WHAT I SEE IS ME.
AND DO I TAKE YOU BY THE HAND
AND LEAD YOU THROUGH THE LAND
AND HELP ME UNDERSTAND
THE BEST I CAN.

AND NO ONE CALLED US TO THE LAND
AND NO ONE CROSSES THERE ALIVE.
NO ONE SPEAKS AND NO ONE TRIES
NO ONE FLIES AROUND THE SUN...

Ở đoạn tiếp theo của Echoes, cuộc sống được miêu tả qua những giai điệu vui tươi, nhiều màu sắc và Pink Floyd đã hoàn toàn thể hiện được điều đó qua âm nhạc của mình. Xin đừng quá chú ý đến giai điệu đều đều của tiếng hát, hãy nhớ rằng tiếng hát chỉ là người dẫn chuyện trong khi âm nhạc mới là nội dung câu chuyện.

Trong cuộc sống, ai chẳng có băn khoăn về sự tồn tại của ít nhất bản thân mình. Thế nhưng, ta vẫn chỉ là những kẻ nằm trong bóng tối (Dark side of the Moon), bị giới hạn bởi những khả năng của con người bình thường – “And no one called us to the land, and no one knows the wheres or whys. Something stirs and something tries starts to climb towards the light”.  “The light” là biểu tượng cho hiểu biết của con người về sự tồn tại của vạn vật., nhưng con người dường như lạc lõng trong cuộc hành trình tìm kiếm sự thật ấy. Đơn giản là bởi vì chẳng ai quay lại kể cho ta về điều gì xảy ra sau cái chết, chưa một ai đi vòng quay mặt trời chân lý để đem tri thức đến cho con người – “And no one crosses there alive. No one flies around the sun…”


Phật giáo cho rằng không gian hay thời gian thực tế không tồn tại mà chỉ do nhận thức của con người quá hạn chế nên chỉ cảm nhận được chúng. Theo đạo Phật, thời gian chuyển động theo đường cong mang tính lặp lại và kế thừa. Không gian bị đan xen bởi những thế giới song song giao cắt nhau mà con người bình thường chưa thể phân biệt được. Điều này thật tính cờ lại xuất hiện trong tác phẩm Echoes, Pink Floyd  băn khoăn người mình tình cờ gặp ngoài đường có phải là chính mình ở một thế giới song song khác hay không, vì thời gian hay không gian mà ta cảm thấy thực ra đâu có nghĩa lý gì? – “Strangers passing in the street. By chance two separate glances meet, and I am you and what I see is me.” Như vậy đấy, có những thứ ở ngay trước mắt chúng ta, nhưng con người vẫn không thể biết được chân lý đằng sau những cuộc gặp gỡ định mệnh ấy mà tiếp tục mê mỏi đắm chìm trong ảo giác.

Cái chết

Những âm thanh rạo rực với tiếng guitar mạnh mẽ và nhịp trống – bass dồn dập bỗng chợt dừng lại: Cái chết đã tới. Chỉ trong một vài giây ngắn ngủi, Pink Floyd đã phủ đầy bài hát với một màu tăm tối và kỳ bí. Cái chết đến nhanh và bất ngờ như thế đấy.

Ban đầu là những tiếng gió hú âm u như những linh hồn đang trò chuyện, giao tiếp với nhau. Con người đang dần nhận thức được thế giới bí ẩn của những linh hồn. Âm thanh ấy bấu víu lấy cả trường đoạn này như đang thể hiện thế giới ấy vẫn luôn tồn tại quanh ta, chẳng qua chỉ tới lúc ấy con người mới có thể cảm nhận được sự tồn tại của nó. Thế rồi những âm thanh khác dần dần xuất hiện. Tiếng kéo dây réo rắt đến khó nghe của cây đàn guitar dường như đang diễn tả nỗi đau đớn tột cùng của linh hồn khi phải rời bỏ những ràng buộc của nó vốn có với thân thể và số kiếp này. Đan xen với đó là tiếng quạ đang kêu réo, dẫn đường cho linh hồn con người. Những âm thanh ấy cứ lạc lõng dần và chỉ kết thúc khi linh hồn đã dứt bỏ hoàn toàn với thể xác để chuẩn bị cho một chu kì mới.

Sự hồi sinh

Những tiếng vang vọng như lúc khởi đầu lại xuất hiện. Con người với linh hồn cũ và thể xác mới lại quẳng hết những gánh nặng của kiếp trước xuống đáy biển sâu thẳm. Cái chết chỉ là một sự chuyển giao, một sự cắt đứt ràng buộc với một thế giới. Con người lại tái sinh ở một thế giới song song khác, linh hồn ta lại tiếp tục đi tiếp vòng quay luân hồi.  Liệu bí mật này ai có thể xác thực được? Phải chăng đạo Phật là tôn giáo đang đi đúng hướng với quy luật cuộc sống mà Pink Floyd đang nêu ra? Không ai trả lời và đủ sức thuyết phục được cho những kẻ người trần mắt thịt như chúng ta. Ta vẫn chưa tin, cho tới khi ta đối mặt với cái chết.


 “CLOUDLESS EVERYDAY YOU FALL
UPON MY WAKING EYES,
INVITING AND INCITING ME
TO RISE.
AND THROUGH THE WINDOW IN THE WALL
COME STREAMING IN ON SUNLIGHT WINGS
A MILLION BRIGHT AMBASSADORS OF MORNING.

AND NO ONE SINGS ME LULLABIES
AND NO ONE MAKES ME CLOSE MY EYES
SO I THROW THE WINDOWS WIDE
AND CALL TO YOU ACROSS THE SKY....

Khi đã hiểu nội dung chính của Echoes, chắc hẳn ta sẽ không thấy những dòng tự sự cuối cùng quá khó hiểu nữa. Chân lý luôn ở trước mắt ta, tồn tại ngay bên cạnh ta. Ánh sáng chân lý của cuộc sống – “The light” vẫn rọi chiếu cuộc sống của hàng vạn sinh linh, không hề có một gợn mây nào ngăn cản con người với ánh sáng ấy. Ta có thể nghe, ta có thể nhìn, ta có thể chạm vào nó, cảm nhận nó, nhưng giới hạn của ta không cho phép ta hiểu được nó.

Nếu bạn đang sống (No one sings me lullabies = ta không phải là đứa trẻ mới bắt đầu tái sinh; No one makes me close my eyes = ta cũng chưa đến lúc phải chết) và muốn tìm hiểu nhận thức thì hãy mở rộng cánh cửa tri thức của bản thân, hãy sẵn sàng tiếp nhận ánh sáng chân lý – “So I throw the windows wide and call to you across the sky”. Hãy kiên nhẫn chờ đợi như the Wedding Guest trong bài thơ “Rime of the Ancient Mariner”, rồi biết đâu đấy, một ngày nọ ta sẽ hiểu rõ hơn về kiếp sống con người.

Kết

Như vậy, rất có thể có khả năng tuyệt phẩm Echoes của Pink Floyd đang muốn đưa người nghe tìm hiểu về sự sống – cái chết và liệu linh hồn chúng ta có được tái sinh. Pink Floyd đặt ra một câu hỏi và Phật giáo đã đưa ra câu trả lời của mình: Thuyết luân hồi. Chẳng ai có thể biết những thành viên trong ban nhạc Pink Floyd đã tiếp cận với tri thức Phật giáo bao giờ chưa? Nếu thực sự Pink Floyd có biết đến đạo Phật, Echoes sẽ là một sự diễn giải nghệ thuật sâu sắc bằng âm nhạc và ca từ. Nếu Pink Floyd chưa biết đến đạo Phật, ta lại càng băn khoăn hơn. Phải chăng tri thức ấy là một. Những con người khác nhau về khoảng cách địa lý và thời gian nhưng lại cùng nhìn thấy những điều ta còn chưa thể nhận biết. Ta không thể phủ nhận được sự tồn tại của những con người có khả năng đặc biệt. Có thể thế giới họ cảm nhận được có điều gì đó khác với thế giới mà chúng ta vẫn đang cảm nhận.